PHƯƠNG ẤY
Rời Hà Nội về nam
Mang theo mắt người Phương ấy
Cuộc sống ồn ào
Ngỡ niềm vui thức dậy
Bỗng buồn đứt ruột
buổi chia ly
Bên Mộ Dạ
Khoắt khuya
Sao đưa anh về đây
Kìa có bóng ma oan nghiệt
Trái tim yêu khờ hơn cái chết
Xa nỏ Kim Qui
Ngoài toan tính quyền uy
MỘT TRĂM VÀ MỘT...
Đôi câu thơ giang dở
Một chút tình trăm năm
Mấy mươi năm làm vợ
Như hương quỳnh trong đêm...
Đỗ Ngọc Quang
Khi đọc các trang thơ Việt Nam hiện nay để tìm sự đồng cảm trong việc phổ nhạc,tôi bất chợt gặp những trang thơ của Đặng Hồng Thiệp.Có lẽ,anh chưa phải là nhà thơ đã ngồi lâu ở một góc chiếu nào của sân đình làng văn. Nhưng trước hết ,tôi bị lôi cuốn bởi các đầu đề tập thơ khá là khác lạ của anh: Hiện về ,Bến thẳm ,Vời vợi ,Xa xanh...Nó gợi cho ta một dòng chảy tâm linh huyền ảo,một đặc trưng đích thực của nghệ thuật.Chứ không phải là thứ mô tả dễ dãi khô cứng. Và rất gợi về âm nhạc...
0- HỎA THỦY VỊ TẾ
Đường trời heo hút gió và mây
Hành tinh sao Hỏa đỏ như say
Chén rượu bồng lai không mấy đã
Tàu ta chưa cặp bến ga này
Lan Phượng
Con chim nó hót líu lo- Ông mặt trời lên cao sáng rõ- Em rửa mặt thật sạch-Em chải răng trắng xinh- Mẹ đưa em đến trường- Gặp lại bạn- Gặp lại cô- Vui vui vui… Mùa hè đã đến rồi, bạn Đỗ Ngọc An , học sinh Lớp B1 của Trường Mầm non Hoàng Văn Thụ hôm nay dậy từ rất sớm. Hôm nay con đi chia tay các bạn, chia tay các cô và xem xiếc của Nhà hát Tuổi trẻ. Hôm nay là buổi học cuối cùng của năm học, bố mẹ ạ. Con có còn được hát bài Con chim nó hót líu lo nữa không ạ?…
Nguyễn Tất Nhiên
Tôi bắt đầu yêu hay bắt đầu dự tính ?
(Dự tính nào cũng thật ngây thơ!)
Tôi bắt đầu ngây thơ hay bắt đầu già ?
(Khi mặc cả tình yêu cùng thù hận)
Xin đánh đổi cuộc đời này (lận đận)
Bằng phút giây cầm được tay người
Em còn đứng bên dòng sông ngát lạnh
Cho đầy hồn mơ ước viển vông
Tôi còn đứng bên dòng sông giá lạnh
Cho một mưu toan tự tử âm thầm
Ngày sắp hết, năm sắp hết
Thời gian nào cho bốn mắt ta xanh ?
Thời gian nào đưa ta về địa ngục ?
(Những kẻ yêu nhau chẳng có thiên đàng)
Thế nào rồi em cũng bỏ tôi
Như những hoàng hôn bỏ mặt trời
Khi tôi thốt lời tình như bảo vật
Em ngu si nên từ chối dễ dàng
Tôi ngu si nên làm người không tiếc của
(Hai kẻ ngu si khó sống gần)
Thế nào rồi em cũng giết tôi
Xin hận thù em suốt quãng đời
Tôi bắt đầu yêu hay bắt đầu dự tính ?
(Dự tính nào cũng thật ngây thơ)
Tôi bắt đầu ngây thơ hay bắt đầu già ?
(Khi mặc cả tình yêu cùng thù hận)
Như loài thiêu thân mê lửa ngọn
Buổi yêu em, tôi hăng hái lià trần
Trần Đình Sử
Phan Ngọc là nhà nghiên cứu, phê bình thuộc lớp đàn anh chúng tôi, sinh năm 1925. Ông bắt đầu nghiên cứu văn học từ cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỉ trước, nhưng vì hoàn cảnh lịch sử, nên ông chưa có dịp công bố tác phẩm của mình. Mãi đến đầu những năm 80, trong không khí ngày càng cởi mở về tư tưởng và văn nghệ của đất nước, ông mới dần dần cho ra mắt bạn đọc nhiều công trình khoa học, trong đó có cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”(1985), gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. Tiếp sau đó , ông cho xuất bản nhiều công trình khác, thể hiện một cách tiếp cận văn học mới mẽ, độc đáo, trở thành một hiện tượng không thể bỏ qua trong phê bình văn học thời kí Đổi mới.
Ngày 26 tháng 1 năm 2008
Kính thưa quý bà,
Kính thưa quý ông,
Tôi là Nguyễn Huy Thiệp, một nhà văn đến từ Việt Nam. Tôi rất hạnh phúc khi có mặt ở đây để nhận giải thưởng “Nonino Risit D’Âur Prize 2008”. Đây thật sự là một vinh dự to lớn với tôi. Tôi không phải là người giỏi tưởng tượng, vì thế - không nói ngoa khi cho rằng giải thưởng này ngoài sức tưởng tượng của tôi.
Kính thưa quý vị,
Tôi sinh ra, lớn lên, sống và viết văn ở một nước nông nghiệp nghèo. Khi tôi sinh ra (năm 1950) dân số nước tôi khi ấy có chừng 30 triệu người và có đến 90% họ bị mù chữ. Hiện nay tình hình khác trước rất nhiều: dân số nước tôi hiện có chừng hơn 80 triệu và số người mù chữ có lẽ chỉ có khoảng 15%. Ở Việt Nam, văn học (giống như mọi lĩnh vực khác ở trong đời sống kinh tế, xã hội) đang phát triển với tốc độ phi thường. Trước kia, truyền thống văn học ở nước tôi rất gần với “đạo” (một khái niệm có thể hiểu tương tự như tôn giáo). Ở thế hệ mẹ tôi, các bà già nông dân khi ra đường trông thấy những mảnh giấy có viết chữ thì họ thường cẩn thận nhặt lên, vuốt phẳng phiu và thận trọng cất nó vào những cái bồ vẫn dùng để đựng thóc gạo như một vật bí hiểm thiêng liêng. Ở thế hệ anh tôi, có thi sĩ đã từng viết ra câu thơ cảm động “nhà ta quý sách hơn vàng”. Nhà văn là những người luôn được coi như người khác thường, được quý trọng bởi những điều họ viết ra ắt hẳn có ánh sáng, ắt hẳn có cái gì như một sự khai hoá nhân sinh nào đó cho mọi người.